Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢN TIN CÀ PHÊ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢN TIN CÀ PHÊ. Hiển thị tất cả bài đăng

Cà phê Việt Nam và những lựa chọn cạnh tranh





Do khó cạnh tranh về giá thu mua hay xuất khẩu, doanh nghiệp cà phê Việt Nam chỉ có 2 lựa chọn cạnh tranh:thị trường ngách hoặc là tạo sự khác biệt.
Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp càphê trong nước gặp nhiều khó khăn; nhiều doanh nghiệp phá sản. Ngược lại cácdoanh nghiệp cà phê nước nước ngoài tồn tại và có thị phần thu mua ngày càng mởrộng.  
Nguyên nhân, theo ý kiến các doanh nghiệp trongnước, là vì doanh nghiệp nước ngoài có quy mô vốn lớn hơn và chịu lãi suất vay thấphơn. Các doanh nghiệp này thường thu mua ở giá cao hơn và thanh toán sớm hơn.
Tuy nhiên, những nguyên nhân trên thật ra chỉlà ngọn của vấn đề. Bài viết này sẽ đi sâu vào tìm hiểu điểm khác biệt để giảithích sự đối lập về kết quả hoạt động giữa hai nhóm doanh nghiệp trong và ngoàinước.
Doanhnghiệp cà phê nước ngoài: họ là ai?
Các doanh nghiệp cà phê nước ngoài có công tymẹ là các công ty đa quốc gia như Olam,  ED&F Man, Neumann Kaffee Gruppe, NedcoffeeBV và Armajaro Trading. Thông tin về các công ty mẹ được cung cấp ở bảng sau:
Tên công ty
Năm thành lập
Xuất xứ
Lãnh thổ hoạt động
Lĩnh vực kinh doanh
Olam
1989
Singapore
65 nước
Mua bán các hàng hóa như ca cao, cà phê, hạt điều, vừng, gạo, bông, sản phẩm gỗ, phân bón, cao su, dầu cọ…
Cung cấp dịch vụ tài chính liên quan đến hàng hóa bao gồm quản lý rủi ro, tạo lập thị trường và quản lý quỹ.
Đầu tư các dự án trồng cà phê, sản xuất phân bón, nhà máy chế biến nông sản và bán sản phẩm nông sản đóng gói ở châu Phi.

ED&F Man
1783
Anh (Luân Đôn)
50 nước
Mua bán hàng nông sản như đường, cà phê, năng lượng sinh học, dầu động thực vật.
Tiếp vận, môi giới và vận chuyển hàng khô.
Cung cấp dịch vụ tài chính bao gồm môi giới hàng hóa, ngoại hối, trái phiếu, dịch vụ quản lý rủi ro và công cụ phái sinh.
Neumann Kaffee Gruppe
1988
Đức (Hamburg)
28 nước
Trồng và quản lý trang trại cà phê.
Chế biến, xuất nhập khẩu cà phê và cà phê hòa tan.
Tiếp vận, vận chuyển và trữ cà phê.
Quản lý rủi ro và dịch vụ tài chính.
Nedcoffee BV
2004
(Amtrada 1930)
Hà Lan (Amsterdam)
5 nước
Mua bán, chế biến cà phê.
(Quản lý rủi ro là một phần quan trọng, được thực hiện tại Amsterdam)
Armajaro Trading
1998
Anh (Luân Đôn)
15 nước
Mua bán nông sản bao gồm ca cao, cà phê và đường.
Cung cấp dịch vụ quản lý rủi ro và công cụ tài chính như  hợp đồng kỳ hạn

Từ bảng trên có thể thấy, ngoài quy mô và lãisuất vay,  các doanh nghiệp nước ngoài còncó những ưu thế sau:
1. Về mô hình kinh doanh, doanh nghiệp nướcngoài thực hiện tất cả các khâu trung gian để mang cà phê từ vườn trồng đến cổngnhà máy đóng gói. Họ có mặt ở nhiều nước, sở hữu kho chứa ở nhiều điểm trungchuyển, có trụ sở chính ở các cảng hoặc các trung tâm giao dịch lớn, kiểm soátđược tất cả các khâu trong quá trình tiếp vận, do đó có lợi thế về thông tin, phânbố rủi ro và giảm chi phí.
Lợi thế thông tin giúp dự báo xu hướng giá và quyết địnhmua/bán, trữ hàng tốt hơn. Việc mua hàng từ nhiều nước giúp kiểm soát chi phí vàthương lượng dễ dàng hơn; công ty có thể dùng giá mua thấp hơn ở một nước để bùgiá mua cao hơn ở một nước khác. Chi phí thấp hơn giúp doanh nghiệp có thể chàomua mức giá cao hơn đối với nông dân.
2.Các doanh nghiệp nước ngoài rất chú trọng  vào việc quản lý rủi ro và sử dụng các công cụtài chính.  Bốn trong năm công ty (trừNedCoffee) có cung cấp dịch vụ quản lý rủi

'Nếu bạn không loại bỏ rủi ro, rủi rosẽ loại bỏ bạn.'
Tom Gib
ro và tài chính.
Chặt chẽ trong quản trị rủi ro, trong một sốtrường hợp, sẽ làm chậm các bước ra quyết định hoặc giảm lợi nhuận. Tuy nhiên,trong khủng hoảng, quản trị rủi ro tốt là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết địnhsự tồn tại của doanh nghiệp.
3. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sâu vàkhông dàn trải ra bên ngoài chuỗi cung ứng của mình. Neumann và Olam đầu tư vàotrồng cà phê. Olam sản xuất phân bón và nông sản đóng gói. ED&F Man hoạt độngdịch vụ môi giới vận tải và vận chuyển hàng khô. Hoạt động sâu trong chuỗi cungứng giúp công ty cắt giảm chi phí, rủi ro, có được thông tin và lợi thế đàmphán tốt với cả người mua và người bán.
Cơhội nào cho doanh nghiệp Việt Nam?
Năm2001, tôm sú Thái Lan bị bệnh chậm phát triển, cho đến nay vẫn chưa xác định đượcnguyên nhân. Dịch bệnh này đã mang đến sự chuyển đổi toàn bộ từ tôm sú sang tômthẻ chân trắng, có giá thành thấp hơn và lợi nhuận cao hơn ở nước này. Hiệnnay, Thái Lan đang là nước xuất khẩu tôm lớn nhất và thể hiện ưu thế cạnh tranhmạnh nhất ở Mỹ, Nhật và Châu Âu.
 Ở Việt Nam, câu chuyện của ngànhcá tra là một câu chuyện tương tự “Tái ông thất mã”. Giai đoạn cuối những năm1990 đến 2003, do các biện pháp cải tạo giống, tăng mật độ nuôi và giảm giá, xuấtkhẩu cá tra tăng trưởng vượt bậc vào thị trường Mỹ.


'Kẻ mạnh sẽ sống, kẻ yếu thì chết. Máusẽ đổ; nhưng sau những mất mát, một ngành công nghiệp hiệu quả hơn sẽ ra đời vàtồn tại bền vững.'
Ratan Tata
Tuy nhiên,  sự tăng trưởng này mang lại một kết quả khôngtốt khi Mỹ áp thuế chống bán phá giá cá tra vào năm 2003. Nhưng, chống bán phágiá ở Mỹ lại là một cơ hội lớn khi các doanh nghiệp Việt Nam, do không thể sangMỹ, đã tìm ra các thị trường mới là Nga, Ukraina và Trung Đông. 
Nhiều doanh nghiệpphát triển nhanh, vươn lên dẫn đầu ngành do xuất khẩu vào các thị trường mớinày. Tuy nhiên, việc tập trung phát triển nhanh và mạnh vào các thị trường mớinổi này một lần nữa gây tổn thất lớn cho các doanh nghiệp khi khủng hoảng kinhtế xảy ra trầm trọng kể từ 2007 trong đó Nga, Đông Âu và Trung Đông chịu ảnh hưởngnặng nề hơn các nền kinh tế phát triển khác.
Như vậy, trong khó khăn lại có cơ hội. Và trong may mắn lại có thể chứađựng nhiều rủi ro. Khủng hoảng, nhìn một cách tích cực, chính là cơ hội đểdoanh nghiệp tự xem xét và làm mới mình. Khủng hoảng cũng là lúc để đào thảicác doanh nghiệp yếu kém, giảm bớt cạnh tranh và tăng thị phần cho các doanhnghiệp kinh doanh hiệu quả. Sau khủng hoảng, lợi nhuận biên của ngành sẽ đượctăng lên và chất lượng sản phẩm được cải thiện.
Nói về ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp cà phê Việt Nam, cạnh tranh vềgiá thu mua hay xuất khẩu là việc rất khó làm đối với các doanh nghiệp này. Vìvậy, để cạnh tranh, chỉ có 2 lựa chọn: một là vào thị trường ngách, hai là tạosự khác biệt. Sự khác biệt ở đây có thể là tập trung sản xuất các sản phẩm sạch,sản phẩm chất lượng cao, bổ sung vitamin, mùi hương, hoặc giảm caffeine. Thịtrường ngách có thể là thị trường cho người già, trẻ nhỏ hay các vùng địa lý mớinhư châu Phi.
Ngoài ra, các công ty nên xem xét việc tăng cường quản trị tàichính, quản trị rủi ro, đầu tư sâu hơn vào các khâu trong chuỗi cung ứng như trồngtrọt, xuất nhập khẩu/sản xuất phân bón để cung cấp cho nông dân, hoạt động tiếpvận/hậu cần hay lập các văn phòng nước ngoài để xuất hàng và thu thập thôngtin.

Theo CFE

Bảo vệ thương hiệu Việt-Nói thì nhiều làm chả bao nhiêu


Bảo vệ thương hiệu Việt-Nói thì nhiều làm chả bao nhiêu


Tại hội thảo “Bảo vệ thương hiệu quốc gia – Những cơ cở pháp lý”, diễn ra tại TP.Hạ Long, sáng 12.8, nhiều ý kiến cho rằng, vai trò của các cơ quan quản lý còn mờ nhạt như hiện nay, thì việc bảo vệ và xây dựng thương hiệu Việt mãi sẽ chỉ dừng ở mức hô hào.

Chính sách nào, doanh nghiệp đó

Tiến sĩ Võ Đại Lược nhận định: Tất cả các quốc gia có những thương hiệu mạnh đều có thể chế – gồm luật pháp, bộ máy nhà nước, phương thức điều hành – rất tốt. Theo chuyên gia kinh tế này, các chính sách, cách quản lý của Việt Nam hiện nay đang dung dưỡng cho những DN làm ăn chụp giật, làm nản lòng những doanh nhân có ý chí xây dựng những thương hiệu mạnh.
Chia sẻ quan điểm này, ông Lê Phước Vũ – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen – cho biết: “Các DN làm ăn chân chính hiện đang phải cạnh tranh với các DN làm ăn chụp giật, lừa người tiêu dùng. Hiện tượng này đã trở thành phổ biến, nhưng các cơ quan nhà nước bó tay. Cứ như thế khó có thể tạo ra được những thương hiệu mạnh.”
Cũng theo doanh nhân này, sản phẩm càng nổi tiếng thì càng bị làm nhái nhiều. Vấn đề này dễ hiểu, chỉ có điều khó hiểu là không thấy vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ sự sáng tạo và giá trị của các DN.
“Tại nhiều khu vực, các cơ sở sản xuất hàng giả ngang nhiên sản xuất Trà xanh không độ của Cty Tân Hiệp Phát chúng tôi để vận chuyển bán lên vùng sâu, vùng xa, biên giới phía bắc, nhưng tất cả các cơ quan chức năng địa phương đều làm ngơ” – ông Phạm Lê Tấn Phong – Giám đốc Trung tâm Truyền thông của Tập đoàn Tân Hiệp Phát – bức xúc.
Chia sẻ bên lề hội thảo, một doanh nhân tâm sự thật: Nhiều khi báo chí cứ nói chúng tôi làm ăn chụp giật, nhưng chính sách không ổn định, thậm chí nhiều khi cũng chụp giật, buộc chúng tôi phải chạy theo.
Không những các cơ quan chức năng chưa “mặn mà” với việc chủ động bảo vệ các DN làm ăn chân chính, mà thực tế, các DN muốn tự bảo vệ mình cũng gặp muôn vàn khó khăn, bởi việc theo kiện mất rất nhiều thời gian, tốn kém. Trong khi đó, đội ngũ thẩm phán chuyên sâu về sở hữu trí tuệ vừa thiếu và yếu. Đáng lưu ý là, sau 20 năm kể từ thời điểm Việt Nam có sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đến nay, vẫn chưa có tòa chuyên trách xét xử các vụ vi phạm sở hữu trí tuệ.

Thương hiệu quốc gia – chủ quyền lãnh thổ “mềm”

Theo tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – việc bảo vệ thương hiệu quốc gia cũng giống như việc bảo vệ chủ quyền của tổ quốc, bởi đó không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là hình ảnh của quốc gia trong đó. Hiện nay, những thương hiệu của Việt Nam ở nước ngoài đạt tới độ “nhắc tới Việt Nam là khách hàng nghĩ ngay tới thương hiệu đó và ngược lại” còn quá ít.
Thực tế, nhiều DN cùng lắm mới chỉ quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trong nước, chứ chưa có kế hoạch đăng ký bảo hộ ở nước ngoài. Vì thế, nhiều thương hiệu Việt Nam đã bị các Cty của nước ngoài lấy mất, điển hình như: Kẹo dừa Bến Tre năm 1998, Cà phê Trung Nguyên năm 2000, Petro Vietnam năm 2002, và gần đây nhất là Cà phê Buôn Ma Thuột… Hậu quả là, các DN Việt Nam hoặc là chỉ xuất hàng thô, hoặc phải thông qua Cty thứ ba; còn vẫn mang thương hiệu của mình thì sản phẩm xuất khẩu đó sẽ bị coi là hàng giả, hàng nhái.
“Tính cộng đồng của các ban ngành, các doanh nghiệp Việt Nam là rất yếu, hầu như chưa hợp tác được gì đáng kể. Vì thế, các chiến lược phát triển của mỗi ngành, mỗi đơn vị, doanh nghiệp thường thiếu tính liên kết” – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Huy Hậu – nhận xét, từ kinh nghiệm của địa phương mình.
Trong khi đó, thị hiếu tiêu dùng ngày càng lệch lạc, có phần cổ súy cho hàng nhái và vẫn còn mang nặng tâm lý sính ngoại. “Không chiếm lĩnh được thị trường nội địa thì khó vươn ra tầm quốc tế. Ngoài sự nỗ lực của các doanh nghiệp, Nhà nước cần phải có giải pháp tổng thể về giáo dục, đào tạo, truyền thông, giải trí, tuyên truyền để tạo nên một văn hóa tiêu dùng thông minh, lành mạnh và có chiến lược” – Đặng Lê Nguyên Vũ – ông chủ của thương hiệu Cà phê Trung Nguyên – kiến nghị.
Giá cà phê
Theo Báo Lao Động

Vị trí nhất nhì thế giới của Việt Nam về Cà phê và gạo bị đe dọa




Việt Nam hiện là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan và sản xuất cà phê robusta số 1. Thế nhưng, các vị trí này đang bị lung lay bởi sự vượt lên mạnh mẽ của các đối thủ.

Ấn Độ sẽ vượt Việt Nam về xuất khẩu gạo

Ấn Độ đã quay trở lại thị trường xuất khẩu gạo sau lệnh cấm 3 năm vào tháng 9 năm ngoái. Trong 3 tháng cuối năm 2011, nước này đã xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn gạo non-basmati. Năm 2012, dự kiến xuất khẩu tới 5,5 triệu tấn loại gạo này, sau khi đã xuất 3 triệu tấn tính đến trung tuần tháng 6 vừa qua, nhờ nhu cầu mạnh từ các khách hàng Iran, Iraq và đặc biệt là Trung Quốc. Ngoài ra, Ấn Độ cũng xuất khẩu 2 – 2,5 triệu tấn gạo basmati mỗi năm. Như vậy, tổng lượng gạo nước này xuất khẩu có thể lên tới 8 triệu tấn trong năm nay.
Việt Nam trong khi đó mới xuất được chưa đầy 3 triệu tấn tính từ đầu năm tới ngày 20/6 (số liệu chính thức từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam). Mục tiêu xuất khẩu cả năm từ 6 – 6,5 triệu tấn có thể đạt được và nếu có vượt cũng sẽ không thể quá 7 triệu tấn, kém Ấn Độ ít nhất là 1 triệu tấn.
Không chỉ Việt Nam mà vị trí số 1 về xuất khẩu gạo của Thái Lan cũng có thể bị Ấn Độ soán ngôi trong năm nay. Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp Mỹ, Thái sẽ chỉ xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo trong năm nay, dù rằng ngành nông nghiệp nơi đây nhắm tới mục tiêu 9 triệu tấn. Giá gạo Thái đắt đỏ do chương trình thế chấp lúa gạo của chính phủ đã khiến lượng gạo bán ra nước ngoài của nước này giảm gần một nửa trong những tháng qua. Hiện giá gạo Thái ở quanh mức 600 USD/tấn, trong khi gạo cùng loại của Việt Nam và Ấn Độ chưa đến 480 USD.

Braxin sẽ soán ngôi ‘vua’ về sản xuất cà phê robusta

Hiện tại, Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về sản lượng và xuất khẩu cà phê robusta, tiếp đến là Braxin và Indonesia. Xét về tổng các loại cà phê thì Việt Nam đứng thứ hai sau Braxin. Tuy nhiên, giới phân tích và các thương nhân đang hoài nghi Việt Nam khó giữ được vị trí quán quân về cà phê robusta do Braxin sẽ vượt lên trong vòng 5 năm tới.
Tại Hội nghị Cà phê Quốc tế năm 2012, giám đốc công ty tư vấn P&A Marketing International, ông Carlos Brando nhận xét, nhu cầu cà phê của Braxin – vốn đang đứng thứ hai thế giới và có thể vượt Mỹ vào năm 2014 – vẫn tăng không ngừng, đặc biệt là loại robusta có giá rẻ hơn và chủ yếu dùng trong chế biến cà phê hòa tan. Vì thế Braxin sẽ tăng cường sản xuất loại cà phê này và tiến tới đứng đầu thế giới về cả cà phê robusta lẫn arabica.
Theo số liệu của quỹ phòng hộ Holland Capital, sản lượng cà phê robusta của Braxin vụ 2009/10 là 13 triệu bao, nhưng đã tăng lên 15 triệu bao vào vụ 2010/11 và 16,5 triệu bao trong vụ 2011/12.
Chuyên gia phân tích về cà phê độc lập Neil Rosser cũng nhận định rằng, Braxin sẽ trở thành nhà sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới nếu nước này tiếp tục giữ tốc độ tăng sản lượng như hiện nay.
Các thương nhân ở châu Âu thì nhận định rằng, chỉ 5 năm nữa thôi vị trí số 1 chắc chắn thuộc về Braxin khi giờ đây khả năng sản xuất của Việt Nam gần như là tối đa trong khi quỹ đất dành cho cà phê lại hạn hẹp.
Trong báo cáo vừa công bố, các nhà phân tích của F.O. Licht dự báo, Việt Nam sẽ sản xuất 23,7 triệu bao cà phê trong vụ 2012/13.

Tự cứu lấy mình

Nếu ngành nông nghiệp không có hành động nào nhằm tăng cường sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu thì chắc chắn không chỉ gạo và cà phê bị mất vị trí nhất nhì thế giới mà còn nhiều mặt hàng khác đối diện rủi ro như hồ tiêu, điều,…
Trong bối cảnh các ngành đều gặp khó, các doanh nghiệp gạo và cà phê cần phải nỗ lực hơn bao giờ hết để vừa giữ vững thị trường truyền thống, vừa phải tìm kiếm thị trường mới nhằm đẩy tăng lượng hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp cũng cần đoàn kết, tránh việc cạnh tranh ngay trên sân nhà bằng việc đua chào giá thấp hoặc làm giảm chất lượng sản phẩm như thời gian qua, gây ảnh hưởng đến toàn ngành.
Về phía người sản xuất, do quỹ đất khó có thể mở rộng, giá cả nông sản bấp bênh, người nông dân phải “tự cứu mình” trước bằng việc nâng cao năng suất. Các sản phẩm làm ra không nên bán đổ bán tháo khi giá xuống thấp hoặc cùng nhau găm hàng quá lâu để chờ giá lên nhằm tránh bị ép giá. Sản phẩm làm ra có lãi là động lực để đầu tư hơn nữa cho các vụ sau.
Hơn hết, điều cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất trực tiếp bây giờ cần là được hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi hơn nữa từ phía nhà nước và các ngân hàng, để có tiền mua nguyên liệu, trữ hàng và đầu tư cho vụ mới. Nhà nước cũng nên áp dụng các biện pháp như một số nước đang thực hiện và có hiệu quả khá tích cực, chẳng hạn như chính sách tạm trữ lúa gạo, cao su, ngũ cốc của Thái Lan và Trung Quốc, hay các chính sách về miễn giảm thuế cho doanh nghiệp.
Lúa gạo và cà phê là hai trong số 5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, cũng là hai trong số các hàng hóa xuất khẩu mang ngoại tệ nhiều nhất về cho đất nước. Nếu cả hai ngành này bị các đối thủ cạnh tranh vượt qua, làm cho suy giảm thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp cũng như đời sống của rất nhiều bà con nông dân.
Giá cà phê
Nguồn Cafe

Doanh nghiệp cà phê nội địa thua do chính sách




Việc hàng loạt doanh nghiệp cà phê bị quật ngã trong thời gian gần đây đã phơi bày những điểm yếu, trong đó có một phần trách nhiệm của quản lý nhà nước.
Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân nhưng năm cao nhất kim ngạch cũng chỉ đạt 2,4 tỷ USD, do 90% sản lượng chế biến kém, giá rẻ. Năm 2007, nhằm vươn tới phân khúc cà phê giá trị cao hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 23/CP-NĐ để khuyến khích doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (FDI) kinh doanh cà phê tại Việt Nam với điều kiện không thu mua trực tiếp từ nông dân mà chỉ đầu tư chế biến sâu.
Nhưng phần lớn doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực cà phê không kinh doanh đúng quy định. Với lợi thế về vốn lớn, lãi suất thấp (chỉ 3,5 – 4,5%/năm), Doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động đầu cơ buôn cà phê nhân với nhiều kiểu vượt rào Nghị định 23/CP-NĐ bằng cách thông qua các công ty TNHH trong nước. Sự không thống nhất về chính sách đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp FDI lách luật: Nghị định 23/CP-NĐ cấm Doanh nghiệp FDI mua hàng trực tiếp từ người nông dân, còn Luật Đầu tư thì không.
Ngoài ra, Doanh nghiệp cà phê trong nước chưa có khả năng bán hàng trực tiếp cho các nhà rang xay cà phê quốc tế nên buộc phải thông qua trung gian, đội thêm chi phí. Trong khi đó, Doanh nghiệp FDI không phải thông qua môi giới nên có thu mua với giá cao hơn và dễ dàng nắm được nguồn nguyên liệu.
Khi đã loại được các đối thủ nội địa, Doanh nghiệp FDI sẽ quay lại chi phối thị trường và tất nhiên giá mua sẽ do họ quyết định, khi đó người nông dân còn có lựa chọn nào khác hay không, khi bị ép giá?
Trước đây, Doanh nghiệp trong nước nắm 80% lượng cà phê xuất khẩu nhưng hiện nay chỉ còn 60%. Niên vụ 2010 – 2011, tại Đăk Lăk, Doanh nghiệp FDI thu mua và xuất khẩu hơn 180.000 tấn cà phê nhân. Tại Lâm Đồng, DN FDI thâu tóm phần lớn sản lượng cà phê 35.000 tấn/năm của tỉnh.
Lãnh đạo của Vinacafe Buôn Ma Thuột cho biết, mọi năm thu mua được từ 60 – 80 nghìn tấn cà phê nhân, còn giờ cố lắm cũng mua được chưa tới 20 nghìn tấn.
Thất bại của DN trong nước là vì dự đoán sai nhưng đói vốn, lãi suất quá cao, đặc biệt là thiếu quản lý hiệu quả của nhà nước, đã tạo điều kiện cho DN FDI nắm giữ thị trường nguyên liệu, đẩy DN trong nước vào cảnh lao đao. Trong khi đó, tại Brazil, Indonesia, chính phủ tích cực bảo vệ nguồn nguyên liệu cà phê trong nước với các chính sách bảo hộ và ưu đãi cho DN nội địa.
Giá cà phê
Theo Báo CôngThương

Giá cà phê


Về giá cà phê


Trước khi đi vào buổi buôn chuyện giá cà phê cuối tuần hôm nay, chúng ta hãy lướt qua các con số mà đến nay không còn là dự báo nữa mà đã là con số thống kê từ thực tế của các cơ quan đáng tin cậy:
1)    Cách đây 1 năm vào tháng 6/2011, USDA đã đưa ra dự báo kể từ vụ mới (tính từ 1/10/2011) sản lượng của Việt nam vụ 2011/2012 sẽ vào khoảng 20,6 triệu bao tức là tăng khoảng 10% so với vụ cũ.
2)    Vào khoảng đầu tháng 5/2012 Tổ chức cà phê thế giới (ICO) đưa ra con số thống kê hàng xuất tới cảng đến của các nước mà trong đó Việt nam có con số xuất từ tháng 5/2011 cho đến tháng 4/2012 là 19,425 triệu bao, nếu cộng thêm số xuất của Việt nam trong tháng 5/2012 là 150.000 tấn (2,5 triệu bao) cho vừa tròn lượng xuất của một năm, cộng với lượng tiêu thụ nội địa khoản 1,1 triệu bao. Cộng tất cả lại thì con số tiêu thụ gần như chính xác đã là 23 triệu bao, trên cả con số của USDA đã dự báo trước đây.
thongkeICO Buôn chuyện giá cà phê cuối tuần
3)    Từ trước đến nay cứ vào khoảng tháng 2 hàng năm hay trễ hơn một chút, thì các nhà máy thu mua cà phê bắt đầu quét dọn kiểm hàng sau một vụ hoạt động ngày đêm căng thẳng, thế nhưng hiện nay, đã là đầu tháng 6, mà cà phê vẫn cứ còn nhập vào kho.
Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu buôn chuyện, nhưng cần nhớ, dẫu buôn thế nào, cũng xin đừng đi quá xa với những con số mà chúng ta đang có trong tay.
Hãy tưởng tượng, nếu như tất cả nông dân đều ồ ạt bán ra như hàng năm chúng ta vẫn làm thì với số lượng 23 triệu bao, chứ không phải chỉ là 20,6 triệu bao như USDA tưởng là đã cao rồi ấy, thì giá trong tết vừa qua có khi đã chạm đáy.
Cho dù với lượng xuất lớn như thế nhưng cho đến nay lượng tồn kho Cert Liffe NYSE chưa có gì là thực sự chuyển biến, trong khi người Việt nam dường như đang trong giai đoạn bán ra những hạt cà phê cuối cùng của mình.
Cứ mỗi khi USDA nâng cao dự báo thì y như rằng Cộng đồng Y5Cafe chuẩn bị gởi công hàm phản đối tới Tổng thống Obama vì để cho Bộ NN Hoa Kỳ nói sai làm ảnh hưởng đến giá cà phê thị trường Việt nam, thật sự bản thân tôi chưa bao giờ tin vào dự báo sản lượng của USDA cả, chẳng hạn như năm nay họ cũng dự báo sản lượng tăng là đang sai so với quan sát thực tế và những diễn biến thời tiết quái lạ, trong khi năm ngoái họ dự báo sản lượng tăng chỉ 10% thì quá ít.
Hiện trạng hoa cà phê bị thối rữa, không đậu quả sau những cơn mưa chẳng ai mong đợi trong thời gian qua không chỉ diễn ra cục bộ từng vùng, mà hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, cộng với sản lượng vụ 2011/2012 quá cao cho nên vụ thu 2012/2013 gần như chắc chắn sẽ bị sụt giảm, nếu không nói là rất đáng kể.
Vì công việc đòi hỏi, cho nên tôi phải đi hầu hết các vùng sản xuất cà phê của Việt nam và nhận thấy một tình hình chung hiện nay là cây rất tốt, nhưng quả thì rất ít, các cuộc phỏng vấn nông dân đều cho một ý kiến gần như giống nhau, ngược lại năm ngoái, khi tiếp xúc với bà con Nông dân cũng như thông qua các đại lý, nhà máy thu mua cho biết họ được mùa rất lớn, nếu vụ thu vào cuối năm nay đúng với những gì tôi đang nhận định, có khả năng tôi nên kiêm thêm nghề bán tin dự báo.
Bây giờ chúng ta buôn đến diễn biến giá trong thời gian qua, tuy nhiên trước hết có lẽ nên nhìn qua đồ thị từ cuối tháng 3/2012 đến cuối tháng 5/2012, chúng ta sẽ thấy một giai đoạn giá thấp lè tè để rồi bộc phát chỉ có một con đường đi lên từ ngày 8/5
Dothi Buôn chuyện giá cà phê cuối tuần
Những người hôm nay bán được giá cao, cần nói lời cảm ơn những người đã bán ra trong giai đoạn trước đó, bởi vì nếu không có sự bán ra bớt của những người không thể cầm cự lâu hơn, thì làm sao có được cái giá của tháng 5, nhưng điều quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự kềm hãm giá cả của giới đầu cơ
Khi thì dự báo Rabo
Lúc thì sản lượng cà rô chất đầy
Nhằm phục vụ cho sự mua vào ở giá mô, giá gò và bán ra ở mức giá đồi giá núi như quý vị đang thấy trên đồ thị biểu diễn.
Đó là đặc tính của thị trường, những cơn sóng chẳng thiên vị ai mà cũng chẳng bạc ác với ai, người khéo lướt sóng thì chọn được vị trí lúc nào cũng đứng trên đỉnh của sóng, người chiến thắng là người lướt được vào bờ mà còn tấm ván với nụ cười tươi.
Theo tôi, những ngày sắp tới sẽ là những giá mô, giá gò, người Nông dân cần bình tĩnh sáng suốt để nhận định, chọn sóng mà nương theo khi nó trông như giá đồi giá núi.
Xem chừng như vẫn còn một cơ hội cuối cùng để giải phóng lượng hàng từ đây cho đến ngày có sản lượng mới của Brazil và sau đó là của Việt nam, có lẽ đó sẽ là thời điểm tháng 7 đến chăng?
Dẫu thế nào thì cũng xin xem đây chỉ là một bài buôn chuyện cuối tuần để bà con ta bàn luận cho vui, chẳng nên lấy làm đó làm định hướng hay dự báo gì cho việc kinh doanh của mình.
Nguồn: giacaphe.com

Vì sao doanh nghiệp cà phê lép vế ngay sân nhà



Tại hội thảo chuyên đề “Ngành cà phê: cơ hội nào cho các nhà đầu tư” vừa mới diễn ra, ông Đoàn Triệu Nhạn, cố vấn cao cấp của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết, năm nay cả nước có 570,9 nghìn ha cà phê, trong đó 533,8 nghìn ha cho thu hoạch.

Ước tính tổng sản lượng cà phê niên vụ 2011/2012 đạt 1,168 triệu tấn. So với niên vụ 2010/2011 , diện tích canh tác tăng 3% và sản lượng tăng 6%. Giá xuất khẩu cà phê năm qua đã tăng kỷ lục, đạt mức giá bình quân tới 2.172 USD/tấn, tăng 45% so với năm 2010.

Theo ông Trần Công Thắng, chuyên gia phân tích ngành hàng cà phê của Trung tâm thông tin nông nghiệp (Agroinfo), dự báo diễn biến giá cà phê trên thị trường thế giới năm 2012 nổi lên 2 kịch bản đáng chú ý.

Kịch bản theo dự báo của Commerzbank, biểu đồ giá cà phê sẽ giảm dần trong các tháng, nhưng không giảm sâu. Còn theo kịch bản của Standard Chartered, giá cà phê sẽ trồi sụt rất mạnh trong năm nay, tăng mạnh vào giữa năm và rớt giá mạnh vào cuối năm.

Ông Thắng cho biết, Agroinfo dự báo giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam năm 2012 sẽ giảm 15-20% so với năm 2011. Vicofa dự báo kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ giảm ít nhất 15% so với năm trước.

Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Thái Hòa nhận định, năm ngoái khối doanh nghiệp nước ngoài thu mua hơn 54% khối lượng cà phê và chèn ép các doanh nghiệp trong nước, gây nhiễu loạn thị trường. Năm 2012 này, các doanh nghiệp nước ngoài cạn vốn do khủng hoảng nợ công châu Âu nên họ sẽ không còn sức mạnh để tranh mua với doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, nếu chính sách thắt chặt tiền tệ vẫn  được thực thi và lãi suất vay ngân hàng cao thì doanh nghiệp trong nước vẫn yếu thế.

Ông An cũng nhận định, vụ thu hoạch cà phê năm nay chỉ còn 2 tháng nữa là kết thúc, đến thời điểm này nông dân mới bán 40% khối lượng cà phê thu hoạch, còn 60% họ chờ khi nào được giá mới bán, tránh bán ra ồ ạt là điều rất đáng mừng.

Ông Phạm  Khánh Hiệp, chuyên gia phân tích cho biết, cả nước hiện có 140 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê, trong đó có 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong số 50 doanh nghiệp lớn nhất thì 12 doanh nghiệp FDI xuất khẩu 380 nghìn tấn, 38 doanh nghiệp trong nước xuất 790 nghìn tấn; 90 doanh nghiệp còn lại chỉ xuất chừng 30 nghìn tấn.

Doanh nghiệp trong nước luôn yếu thế hơn so với doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh trực tiếp với các thương nhân rang xay cà phê trên sàn giao dịch, họ có hệ thống các chi nhánh trên cả nước để thu mua sản phẩm đến từng hộ nông dân. Họ cũng nắm bắt tốt hơn những diễn biến trên thị trường, nên luôn đưa ra được chiến lược kinh doanh hợp lý hơn.

Hiện nay các doanh nghiệp trong nước không có được những thông tin chuyên nghiệp nên khó có chiến lược kinh doanh tốt, hoạt động thu mua phải qua nhiều khâu trung gian.

Bên cạnh đó, phần lớn nguồn vốn thu mua cà phê của các doanh nghiệp trong nước đều phải vay ngân hàng, trong khi hệ thống ngân hàng chưa hiểu được phương thức kinh doanh thị trường của ngành hàng cà phê. Khi cà phê có cơ hội đầu tư lãi cao, thì các ngân hàng cũng không tăng cường rót vốn cho doanh nghiệp.

Cơ chế cho vay vốn hiện nay cũng không hợp lý, ngân hàng luôn đòi hỏi doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu thì mới cho vay. Dẫn đến, các doanh nghiệp buộc phải ký hợp đồng giao sau, giao xa rồi vay vốn ngân hàng mới có tiền để thu mua cà phê.

Với cơ chế này, doanh nghiệp lâm vào tình thế “một cổ 2 tròng”: vay ngân hàng thì phải trả lãi, đối tác mua hàng đã chốt giá trước nên doanh nghiệp xuất khẩu chịu rủi ro rất lớn.

Theo bà Trần Thị Quỳnh Chi (Viện Ipsard), hiện có 561 nghìn hộ (2,6 triệu lao động) đang trồng cà phê tại Tây Nguyên, trong đó 90% số hộ có quy mô canh tác nhỏ hơn 1 ha. Do sản xuất riêng lẻ nên chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, khả năng mặc cả đều kém, chi phí sản xuất cao.

Hệ thống tiêu thụ bao gồm hàng nghìn nhà buôn nhỏ, công ty sơ chế, tuy họ thu mua trực tiếp và linh hoạt nhưng do lợi nhuận thấp nên thường xuyên bóp méo thị trường. Vicofa là tổ chức lớn nhất đại diện cho ngành hàng cà phê, nhưng lại không có đại diện là nông dân.

Hiện nay, Viện Ipsard và Cục Trồng trọt đang phối hợp xây dựng chiến lược quốc gia cho ngành hàng cà phê Việt Nam. Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, Chiến lược phát triển bền vững ngành hàng cà phê Việt Nam hướng tới 8 nhóm giải pháp chính: phát triển thể chế, sản xuất bền vững, cải thiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, marketing tiêu thụ nội địa, giám sát cung cầu, hỗ trợ xã hội, cải thiện tiếp cận tài chính.

Theo Cục trưởng Ngọc, cần phải thống nhất tổ chức điều phối ngành hàng cà phê, kết nối các hiệp hội, tổ chức nông dân có liên quan nhằm thống nhất các kế hoạch đầu tư, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn ngành. Bên cạnh Vicofa cần có thêm Hiệp hội thương lái và Hiệp hội các nhà chế biến rang xay cà phê để cải thiện các dịch vụ và liên kết thị trường.

Các hiệp hội này phải cung cấp thông tin cho các thành viên về kế hoạch mua hàng, điều kiện mua hàng; tổ chức đại lý nhằm đầu tư và thu mua cà phê; chỉ đạo sản xuất cà phê theo phương thức bền vững.
(Theo Vneconomy)

Câu chuyện cà phê robusta và arabica


Ai cũng biết Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, nhưng đứng thứ hai là nước nào? Câu trả lời có vẻ khá bất ngờ đó chính là Việt Nam.
Câu chuyện cà phê robusta và arabica
Tờ Finacial Times mới đây đăng bài viết với những tranh luận khá thú vị xung quanh 2 loại cà phê robusta và arabica. Tác giả bài viết là một chuyên gia hàng đầu về phân tích hàng hóa thuộc VM Group, một Công ty tư vấn nghiên cứu hàng hóa tại London. 
Brazil đứng nhất, Việt Nam đứng nhì
Ai cũng biết Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, nhưng đứng thứ hai là nước nào? Câu trả lời có vẻ khá bất ngờ đó chính là Việt Nam.
Brazil và Việt Nam chiếm đa số sản lượng cà phê của thế giới, đặc biệt đây còn là 2 quốc gia lớn cung cấp chủ yếu 2 loại cà phê chính gồm Arabica và robusta. Brazil là nước sản xuất cà phê Arabica lớn nhất thế giới, trong khi đó Việt Nam lại đứng đầu về sản xuất cà phê robusta.
Mỗi người có một sở thích riêng, người thích cà phê Arabica, có người lại thích cà phê robusta, song với giới mê cà phê thực thụ, Arabica có lẽ là lựa chọn hơn cả.
Cũng giống như bất cứ mặt hàng nào khác, quan hệ cung – cầu là yếu tố quyết định đối với giá cả. Do vậy, giá arabica cao hơn cho thấy nhu cầu đối với loại cà phê này cũng cao hơn so với robusta. Thực tế, chỉ có 2 loại cà phê chính là robusta và Arabica, nhưng từ 2 loại này, người ta có thể được chế biến thành nhiều loại khác nhau với chất lượng cũng khác nhau.
Tại sao arabica lại được ưa chuộng hơn robusta?
Điều này phụ thuộc vào vị giác riêng của từng người. Arabica được đánh giá là có hương vị ngon hơn, ít chát, nhưng lại đắng hơn so với robusta. Nhiều người thích uống loại cà phê hòa tan robusta, nhưng khi chuyển qua uống arabica, thì đa số họ lại không muốn dùng robusta nữa.
Robusta có thể xem là loại cà phê có phẩm chất kém hơn, tuy nhiên nó có ưu thế hơn đó là rất hợp thời tiết. Thông thường, loại cà phê này sẽ cho thu hoạch sau 2-3 năm, trong khi cà phê arabica phải cần 4-5 năm.
Cây cà phê arabica cũng là một loại cây khó tính và khá nhạy cảm với khí hậu, nó đòi hỏi nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng năm phải đúng tiêu chuẩn mới cho thu hoạch cao. Trong khi đó, cây cà phê robusta lại có thể thích ứng với nhiều loại điều kiện môi trường khác nhau.
Điều kiện thời tiết tác động đến năng suất cây trồng
Sản lượng cà phê trung bình hàng năm của thế giới được tính theo 2 cách đó là: tính theo bao – thông thường 60kg/bao, hoặc tính theo tấn.
Sản lượng cà phê arabica trong giai đoạn 2010 – 2011 được dự báo đạt 86 triệu bao, đáp ứng nhu cầu 80 triệu bao, còn với cà phê robusta, lượng cung là 54 triệu bao, cầu là 51 triệu bao.
Sự gia tăng nhu cầu đối với cà phê gần như không bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, hay nói cách khác, người ta vẫn không chịu, không muốn từ bỏ thứ đồ uống ưa thích hàng ngày của mình. Mặt khác, tốc độ tăng này cũng có xu hướng chậm lại, trung bình khoảng từ 1-1,5%/năm.
Ngành sản xuất cà phê hiện vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nhiều thị trường mới nổi trên thế giới. Ngoài Việt Nam, các nước sản xuất cà phê robusta lớn bao gồm Brazil, Indonesia, Ấn Độ và Uganda. Colombialà nước sản xuất cà phê arabica lớn thứ hai thế giới chỉ sau Brazil. Ngoài ra, các nước Trung Mỹ cũng là các nước sản xuất cà phê lớn.
Thời tiết đóng một vai trò quyết định đến năng suất cây trồng, mà sự vụ gần đây ở Colombia có thể xem là một ví dụ điển hình về hậu quả do thời thiết xấu gây ra.
Hai vụ trước, sản lượng cà phê của nước này vẫn đứng ở mức cao 12 triệu bao, tuy nhiên, trận mưa lớn vào cuối năm 2008 đã gây trở ngại lớn đối với việc thu hoạch, và vận chuyển cà phê. Do đó, sản lượng xuất khẩu của Colombia đã giảm 1/3. Đồng thời giá cà phê arabica Colombia cũng tăng mạnh do các hãng chế biến buộc phải tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thay thế để đảm bảo chất lượng.
Brazil lại là một nước thường xuyên chịu ảnh hưởng của thời tiết sương giá vào mùa đông kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8, và điều này làm cho giá cà phê arabica càng cao hơn.
Tuy nhiên, tình trạng trên đã có xu hướng giảm trong những năm gần đây, kể từ đầu thập niên 19, không xảy ra vụ sương tàn phá nghiêm trọng; Một phần là bởi thị trường tiêu thụ có dấu hiệu tạm lắng; một phần là vì hoạt động trồng cà phê đã được mở rộng ra các vùng khác của Brazil ít chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt mùa đông.
Việt Nam được lợi nhờ thời tiết
Những năm gần đây, mùa mưa diễn ra khá đều đặn, do vậy, việc Việt Nam quyết định phát triển loại cà phê robusta thay vì loại arabica (mặc dù sau này Việt Nam cũng có sản xuất một lượng nhỏ loại cà phê này) là hoàn toàn đúng đắn, bởi trồng cà phê robusta cũng đơn giản như chính cái tên của nó “robust” – khỏe mạnh.
Trong tương lai, cung – cầu và giá cả cà phê sẽ ra sao? Sự nóng lên của trái đất – một mối quan tâm lớn hiện nay của toàn nhân loại sẽ là một mối đe dọa lớn, đặc biệt là đối với cà phê Arabica – loại cây ưa thời tiết mát mẻ, song cũng không thể thích ứng với nhiệt độ quá thấp.
Tuy nhiên, đây không chỉ là mối đe dọa riêng đối với loại cà phê này, mà đó cũng là một hiểm họa lớn đối với triển vọng của rất nhiều sản phẩm nông nghiệp khác.
Trong dài hạn, khi cung không thể đáp ứng cầu, sẽ khiến giá leo thang. Hiện vẫn chưa xảy ra tình trạng này, song thời điểm khi mà giá cả hàng hóa có thể “giảm nhiệt” nhờ các công nghệ tăng cường sản lượng thì vẫn còn rất xa.
Sự trỗi dậy của Việt Nam
Thập niên 19, Việt Nam hầu như không sản xuất cà phê. Tuy nhiên, thời gian gần đây, Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên vị trí hàng đầu về sản xuất loại mặt hàng này.
Động cơ để trở thành nước sản xuất cà phê robusta lớn trên thế giới chính là từ quyết định của Đảng nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách triệt để.
Các chính trị gia Việt Nam đã nhận ra cơ hội ở thị trường sản xuất kinh doanh cà phê hòa tan. Đây là một ngành phát triển khá nhanh. Do vậy, Việt Nam đã tăng cường hỗ trợ các nhà máy sản xuất cà phê trong nước.
Tuy nhiên, cà phê sau khi được sản xuất chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ ở thị trường bên ngoài, mà tại đây loại đồ uống chính vẫn là trà.
Trái lại, khoảng 50% sản lượng cà phê arabica của Brazil được tiêu thụ trong nước, đặc biệt mức tiêu thụ nội địa đang có xu hướng tăng mạnh so với mức tiêu thụ trung bình của thế giới.

 
THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ FIN SỐ MỘT VIỆT NAM - SỰ LỰA CHỌN TỐT NHẤT CHO CÁC CÁC QUÁN CÀ PHÊ LIÊN HỆ :Mr- NGUYỄN VĂN PHÚC | Số điện thoại | 0989.845.458
HOẶC : Miss - LÊ THỊ CHÂM | Số điện thoại | 0916.646.189
Email | coffeefin@gmail.com | caphefin@gmail.com
Copyright © 2011. CÀ PHÊ PHIN VIỆT NAM - All Rights Reserved