Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐỊA LÝ CÀ PHÊ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐỊA LÝ CÀ PHÊ. Hiển thị tất cả bài đăng

Địa lý cà phê Indonesia


Indonesia (tên chính thức: Cộng hòa Indonesia, tiếng Indonesia: Republik Indonesia; Hán Việt: Nam Dương), là một quốc gia nằm giữa hai lục địa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia gồm 13.487 hòn đảo [2][3] và với dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tư thế giới vềdân số.
Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên trong Hiến pháp Indonesia không hề đề cập tới tôn giáo này. Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất.
Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ 7, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại vớiTrung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốcChâu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Thế chiến thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.
Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.
Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.



Bản đồ Indonesia
Indonesia gồm 13.487 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở.[36] Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo. Năm hòn đảo lớn nhất là Java, Sumatra, Kalimantan (phần Borneo thuộc Indonesia), New Guinea (cùng chung với Papua New Guinea), và Sulawesi. Indonesia có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo và Sebatik, Papua New Guinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảoTimor. Indonesia cũng có chung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng một dải nước hẹp. Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước, sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang.[37]
Với diện tích 1.919.440 kilômét vuông (741.050 dặm vuông), Indonesia là nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền.[38] Mật độ dân số trung bình là 134 người trên kilômét vuông (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới,[39] dù Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới,[40] có mật độ dân số khoảng 940 người trên kilômét vuông (2.435 trên dặm vuông). Nằm ở độ cao 4.884 mét (16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất Indonesia, và hồ Toba tại Sumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145 kilômét vuông (442 dặm vuông). Các con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các sông Mahakam và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng nối giữa các khu định cư trên đảo.[41]
Núi Semeru và Núi Bromo tại Đông Java. Hoạt động kiến tạo và núi lửa Indonesia ở mức cao nhất trên thế giới.
Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á, và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất. Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động,[42] gồm cả Krakatoa và Tambora, cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ 19. Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước, là một trong những vụ phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàn cầu. Những thảm họa gần đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thần năm 2004 đã giết hại tổng cộng gần 230.000 người[43] và khoảng 167.736 người tính riêng phía bắc Sumatra,[44] và trận động đất Yogyakarta năm 2006. Tuy nhiên, tro núi lửa là một yếu tố đóng góp vào sự màu mỡ của đất trong lịch sử từng giúp nuôi sống mật độ dân cư dày tại Java và Bali.[45]
Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưa và khô riêng biệt. Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp khoảng từ 1.780–3.175 milimét (70–125 in), và lên tới 6.100 milimét (240 in) tại các vùng núi. Các vùng đồi núi—đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java, Kalimantan, Sulawesi, và Papua—có lượng mưa lớn nhất. Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80%. Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là 26–30 °C (79–86 °F).[46]
Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ. Đất canh tác 8% (3% được tưới), đồng cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc.
Diện tích, khí hậu nhiệt đới cùng với hình thế địa lý quần đảo của Indonesia khiến nước này có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ hai thế giới—chỉ sauBrazil[47]— và hệ động thực vật của nó là sự pha trộn của các giống loài Châu Á và Australasia.[48] Khi còn kết nối với lục địa Châu Á, đảo thềm Sunda(Sumatra, Java, Borneo, và Bali) có hệ động vật Châu Á rất phong phú. Các loài thú lớn như hổ, tê giác, đười ươi, voi, và báo, từng hiện diện với số lượng lớn tới tận phía đông Bali, nhưng số lượng và diện tích phân bố của chúng đã giảm mạnh, đặc biệt ở Indonesia có loài Rồng komodo (Varanus komodoensis) là loài thằn lằn lớn nhất thế giới, chiều dài con lớn trung bình 2–3 m. Đây là một loại thuộc họ kỳ đà, (Varanidae), và sống trên nhiều đảo của Indonesia, năm 2011 con vật này đã được chọn làm biểu tượng linh vật của SEA Games 26 . Rừng bao phủ khoảng 60% đất nước.[49] Tại Sumatra và Kalimantan, có rất nhiều loài động vật Châu Á. Tuy nhiên, rừng đang suy giảm, và số lượng dân cư đông đảo tại Java càng khiến tình trạng phá rừng tăng cao lấy đất sinh sống và canh tác. Sulawesi, Nusa Tenggara, và Maluku—từng tách rời khỏi lục địa từ lâu—đã phát triển hệ động thực vật của riêng mình.[50] Papua từng là một phần của lục địa Úc, và là nơi có hệ động vật duy nhất có liên quan gần gũi với hệ động thực vật Australia, với hơn 600 loài chim.[51]
Indonesia đứng thứ hai chỉ sau Australia về mức độ loài đặc hữu, với 26% trong tổng số 1.531 loài chim và 39% trong tổng số 515 loài có vú là động vật đặc hữu.[52] Bờ biển dài 80.000 kilômét (50.000 dặm) của Indonesia được bao quanh bởi các biển nhiệt đới cũng đóng góp vào mức độ đa dạng sinh thái cao của nước này. Indonesia có nhiều hệ sinh thái biển và bờ biển, gồm các bãi biển, đụn cát, cửa sông, bãi lầy, rặng san hô, bãi cỏ biển, bãi bùn ven biển, bãi thuỷ triều, bãi tảo, và các hệ sinh thái nhỏ trong đất liền.[4] Nhà tự nhiên học người Anh, Alfred Wallace, đã mô tả về một đường ranh giới phần bố giữa các loài châu Á và châu Úc.[53] Được gọi là đường Wallace, chạy gần theo hướng bắc nam dọc theo cạnh Thềm Sunda, giữa Kalimantan và Sulawesi, và dọc theo Eo Lombok sâu, giữa Lombok và Bali. Phía tây đường này hệ động thực vật mang nhiều đặc điểm Châu Á; về phía đông Lombok, hệ động thực vật dần mang đặc điểm Australia. Trong cuốn sách The Malay Archipelago năm 1869, Wallace đã miêu tả nhiều loài động vật duy chỉ có ở vùng này.[54] Vùng đảo giữa đường Wallace và New Guinea hiện được gọi là Wallacea.[53]
Dân số cao và cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng của Indonesia đặt ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng và thường không được chú trọng nhiều vì mức độ nghèo đói cao cũng như sự quản lý yếu kém với các nguồn tài nguyên.[55] Các vấn đề này gồm phá rừng trên quy mô lớn (đa số là trái phép) và những trận cháy rừng gây ra những đám khói dày che phủ nhiều vùng phía tây Indonesia, Malaysia và Singapore; khai thác quá mức các nguồn tài nguyên biển; và các vấn đề môi trường đi liền với sự đô thị hóa và phát triển kinh tế quá nhanh, gồm ô nhiễm không khí, tắc đường, quản lý rác, và xử lý nước thải.[55] Phá hủy môi trường sống đe doạ sự tồn tại của các loài bản địa và đặc hữu, gồm 140 loài thú có vú được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế(IUCN) xác định là đang bị đe dọa, và 15 loài được coi là bị đe dọa tuyệt chủng, gồm cả khỉ Sumatran Orangutan.[56]

Địa lý cà phê Châu Phi


Một số loại café nổi tiếng nhất thế giới là được trồng ở Đông Phi, dọc theo trục Bắc - Nam mà bắt đầu là từ bán đảo Ả Rập ở Yemen và kết thúc ở Zimbawe ở miền Nam Châu Phi, dọc theo các cao nguyên Etiopia, Kenya, Tazania, Zambia và nhiều nơi không mấy nổi tiếng khác .

Xuất xứ địa lí: Cà phê từ Châu  Phi và Ả-rập 

Một số loại café nổi tiếng nhất thế giới là được trồng ở Đông Phi, dọc theo trục Bắc - Nam mà bắt đầu là từ bán đảo Ả Rập ở Yemen và kết thúc ở Zimbawe ở miền Nam Châu Phi, dọc theo các cao nguyên Etiopia, Kenya, Tazania, Zambia và nhiều nơi không mấy nổi tiếng khác .

Những loại café nổi tiếng ở thế giới thường được đặc trưng bởi hương thơm đặc biệt và mùi vị đặc trưng của trái café, có loại có mùi thơm giống nước hoa, có loại mang mùi vị đặc trưng của giống cam – quýt ở Etiopia, ở Kenya, cũng có loại mang vị hấp dẫn nhẹ nhàng của loại quả ở Zambia. Khi nói đến các loại café nổi tiếng phải kể đến hai trong số những loại café ra đời sớm nhất trên thế giới là Harrar được trồng ở miền đông bắc Etiopia và café của Yemen ở bờ bên kia biển Đỏ.
 
Café từ Châu Phi và Ả Rập: Yemen.

Café Mocha là một trong những loại café mang lại cho người uống nhiều cảm giác khác nhau. Café Mocha (cũng có thể viết là Moka, Mocahay Mocca) ngày nay được trống ở trên đỉnh núi Yemen như chúng vẫn thường được trồng hàng trăm năm nay, vùng này nằm ở miền Tây Nam của bán đảo Ả Rập. Thoạt đầu chúng được chuyển trở thông qua cảng Mocha mà ngày nay đã được tha thế bằng một cảng mới hiện đại hơn và cảng Mocha trở nên điêu tàn, củ kỹ. Vì vậy cái tên Mocha đã trở nên quá quen thuộc và trở thành một phần không thể thiếu trong tên gọi của loại café nổi tiếng thế giới này. Người ta thuờng biết đến tên càfê Mocha hơn là café Yemen hay Arabian

Ngày nay người ta có thể bị nhầm lẫn giữa café Yemen và loại café giống café Yemen có xuất xứ từ miền Đông Etiopia gần thành phố Harrar. Loại café rang Harrar Etiopia này thường được bán với nhãn hiệu café Mocha hoặc Moka. Loại café này giống với café Yemen chính hiệu nhưng chỉ khác ở chổ là hạt café nhẹ hơn.

Một khả năng nhầm lẫn khác bắt nguồn từ việc pha trộn một ít sôcôla vào café YemenMocha, điều này làm cho một số người say mê café gọi tên kèm theo thức uống gồm café và socola.

Café lâu đời nhất ( xuất hiện sớm nhất ) trên thị trường thế giới là café Ả Rập thực sự được trồng ở các đồi núi trung tâm của Yemen vẫn còn được trồng trong suốt 500 năm nay trên những vùng đất các triền núi bán khô cằn phía dưới những dãy đá già. Được hình thành mà về cấu trúc giống hệt như là ngọn núi tự mở rộng. Về mùa hè thì các cơn mưa sương mù làm cho các đỉnh núi có màu xanh sáng thì các cây café nhỏ bắt đầu nở hoa và kết trái. Mùa thu khi các đám mây mù tan đi và không khí trở nên khô ráo hơn thì trái café cũng bắt đầu chín muồi, chúng được hái xuống và được giải đều trên các mái nhà của những ngôi nhà đá để phơi sấy khô. Vào mùa đông khô ráo, nước được giữ trong các bể chứa nhỏ thường sẽ được tưới vào gốc cây café để giúp cây sống được cho đến khi xuất hiện những cơn mưa phùn của mùa hè.

Café Yemen vẫn được chế biến theo cách chế biến của hàng thế kỷ này. Tất cả các loại café Mocha của Yemen là càfê sấy khô hoặc tự nhiên, sấy cho đến khi tính chất từ trái café bám hết vào hạt là được. Sau khi trái và hạt café đã được sấy khô thì chúng sẽ được đổ vào cối xay để làm tróc vỏ đi sẽ thu được hạt café. Tôi đã từng nghe người ta nói rằng những cối xay này được vận hành bởi những con lạc đà hoặc vượn mặc dù tôi chưa từng được chứng kiến cảnh tượng này. Nhưng giờ đây những cối xay này chạy bằng động cơ xăng làm cho mọi người đều cảm thấy hơi tiếc vì sẽ không còn được nhìn thấy công nghệ sản xuất càfê đầu tiên nhất và lâu đời nhất.

Vỏ của trái café sau khi đã được phơi khô sẽ được cối xay nghiền nát, để tạo nên vị ngọt cho café mà người Yemen gọi đó là qishr. Vỏ café được cho thêm một số gia vị và được nấu lên. Kết quả là sẽ tạo ra một thức uống thật mát thường được uống vào buổi trưa để làm hạ cơn nóng trong người và làm cho người ta tỉnh táo. Ngưới Yemen chỉ uống café nguyên chất đã rang chín vào buổi sáng, sau khi tắm xong họ sẽ uống nhanh một cốc café nóng với đường theo kiểu của người Trung Đông.

Hầu hết café Yemen được trồng từ những cây café Arabica mà có lẽ không một nơi nào ngoại trừ miền Đông Etiopia có thể có. Người Yemen đặt rất nhiều tên gọi cho café, có lẽ đến khoảng một trăm tên gọi. Hầu hết những tên này chỉ được gọi miệng chứ không có tên chính thức trong văn bản nào cả và chỉ được thừa nhận bằng miệng dựa trên những hiểu biết về café Yemen. Ít nhất thì điều đó cũng được thừa nhận ở khắp vùng Yemen, tuy nhiên Ismaili, nơi sản xuất café hạt tròn, nhỏ giống như hạt đậu tách ra.
 
Những bí ẩn trong tên thương mại của café. Tên thương mại của café cũng giống như tên của những loại đậu khác, nó cũng liên quan đến loại đậu cây và tên của những quận trồng loại cây đó. Ví dụ nếu một người kinh doanh café nói anh ta đang có sẳn loại café Ismaili thì điều đó sẽ chưa rõ ràng nếu anh ta không cho biết café được trồng ở quận Bani Ismaili hay hạt được thu hoạch từ giống cây cà phê Ismaili hay cả hai.

Điếu đó cho thấy rằng sẽ có nhiều điều cần bàn luận xung quanh vấn đề tên thương mại của café Yemen. Mahari là loại café được trồng ở Banimsttar, đây là một quận trồng café nằm ở phía Tây Thủ đô Sana’a đây là loại café Yemen nổi tiếng nhất. Mặc dù những người xuất khẩu café thường trộn café Yemen với những loại café khác tương tự nhưng café được bán với tên đấy vẫn có vị chua đặc trưng cùng với những mùi thơm phức tạp đặc biệt của café Yemen. Hirazi, một loại café khác được trồng ở những dãy núi phía Tây Sana’a có lẽ cũng có vị chua và vị trái cây tương tự nhưng hơi nhẹ hơn café Matari một chút. Café Ismaili bất kể đế cập đến tên giống cây hay địa danh thì nó cũng ngon hơn mặc dù có chút nhẹ nhàng hơn và ít thơm hơn café Matari. Tên thương mại Sanari biểu thị được cách pha chế café từ nhiều vùng khác nhau ở miền Tây Sana’a, loại café này thì có vẻ trung hoà hơn, ít chua hơn, ít phức tạp hơn café Mattari, Hirazi, hay Ismaili. Nói đến Sanani thì người ta thường hiểu đó là café được trồng ở những nơi có địa hình thấp hơn trong đó bao gồm quận Rami.
 
Café xuất xứ từ Châu Phi và Ả Rập: Etiopia.

Vụ café được trồng nhằm mục đích thương mại đầu tiên là ở Yemen nhưng cây café lại có xuất xứ từ ẢRập, vượt qua biển Đỏ đến miền Tây Etiopia, trên những cao nguyên mà người dân nơi đây thường chỉ đến để hái trái café hoang. Ngày nay, café Etiopia mà có ít nhất một loại điển hình là café Yirgacheffe được xếp vào nhóm các loại café ngon nhất thế giới.

Tất cả những điều nói trên chứng tỏ sự kết hợp hài hoà giữa vị rượu và chất chua của trái cây trong café của Châu Phi và Ả Rập. Song café của người Etiopia lại được xếp lên hàng đầu. Những thành công này được xác định nhờ vào quy trình (phương pháp) chế biến. Café Etiopia hầu như được áp dụng nhửng quy trình sấy khô khác nhau (hạt càfê được sấy khô lúc còn trong vỏ) và có loại được sấy bằng phương pháp tinh vi, phương pháp làm ẩm trên qui mô lớn, mà trong đó tính chất của trái café được chuyển ngay vào hạt nhờ vào một qui trình kỹ thuật phức tạp trước khi hạt café được sấy khô.

Các loại café đã qua chế biến của Etiopia. Trong hầu hết qui trình chế biến café của Etiopia là thiếu một qui trình chế biến hàng loạt những gói café nhỏ để tiêu thụ trong thị trường nội địa. Người ta sẽ hái và phơi khô trái café ở bất cứ mọi nơi cho dù đó là một cây café mọc đơn độc. Tôi còn nhớ có lần đang lái xe trên một con đường vắng ở miền Đông Etiopia và đột nhiên chạy đến một vùng mà các bức tường rào đều đựoc xây bằng đá để bảo vệ cho khu vực phơi café. Loại café được chế biến theo cách này rất hiếm khi xuất khẩu, loại café chỉ cần bóc vỏ, rang chín này chỉ tiêu thụ trong thị trường nội địa.

Thay vì vậy những quả cà phê chín ngon nhất sẽ được bán cho các xưởng sấy café được gọi là các xưởng pha chế. Ơ đó café được chế biến để xuất khẩu theo quy trình công nghệ hiện đại nhất. Chỉ trừ những trái chưa chín lắm hoặc nhừng trái quá chín được đưa ra phơi ở ngoài nhưng không phải ở trên mặt đường mà là trên những chiếc chiếu cao và to như mặt bàn đặt phía trước cửa nhà của các nông dân. Café được sấy theo cách náy cũng có thể được xuất khẩu nhưng chỉ để lấp chỗ khi loại café hảo hạng bị thiếu.

Café harrar của Etiopia ngoài loại café hạng hai của Etiopia là loại càphê cao cấp và được tán dương của Harrar còn có loại café được trồng ở tỉnh Muslim phía đông thủ đô Addis Ababa ở Harrar, tất cả trái café bao gồm cả trái chín ngon nhất và trái chín nhất đều được đưa ra phơi ngoài trời. Thông thường thì trái café sẽ được đưa ra phơi trực tiếp trên cây. Và cuối cùng sẽ cho ra loại café rất giống café Yemen, nó mang vị ngọt vừa hoang dã vừa có vị trái café còn có chút vị men nữa. Loại hương vị này chỉ có ở café Yemen và café Harrar của Etiopia, và nó thường được gọi là café có vị Mocha. Đây cũng là một trong loại café nổi tiếng nhất thế giới. Vì thế nên café Harrar cũng thường được bán với tên Mocha hay Moka, điều này càng làm rối thêm xung quanh việc lạm dụng tên gọi của café Mocha. Một số người bán lẻ thường gọi tên càphê bằng cách gộp cả hai loại theo cách gọi của người Etiopia như là café Moka Harra. Harra cũng có thể được viết thành Harari, Harer hay Harar.

Yirgacheffe và những loại café khai thác của Etiopia. Nhà máy chế biến café đầu tiên được xây dựng ở Etiopia vào năm 1972. Ba thập niên sau đó nhiều nhà máy khác được xây dựng ở phía Nam và phía Tây của Etiopia sử dụng phương pháp sử lý vi sinh. Qua quy trình sử lý này vị của quả sẽ được chuyển hết vào hạt café trong quá trình sấy, nhờ thế các loại café như café Harrar có mùi vị rất đặc trưng và hấp dẫn.

Trong các loại café chế biến của vùng Yirgacheffe, vùng đồi cao có lớp đất trồng vừa sâu vừa tốt ở miền Tây-Nam Etiopia, loại café này rất thơm. Café Etiopia Yirgacheffe là một loại café được kết hợp cao độ các hương thơm của cam quýt và các loại hoa, do đó loại café này cũng được xem là loại café đặc biệt nhất thế giới. Các loại café khác của Etiopia như Washed limu, Washed Sidamo, Washed Jima và các loại khác cũng đều có hạt tròn, mịn, thơm và có vị cam nhưng lại ít thơm hơn loại café Yirgacheffe. Tuy nhiên chúng cũng có thể được xếp vào loại café rất ngon và đặc biệt.

Hầu hết các café Etiopia được trồng mà không sử dụng hoá nông nghiệp và được trồng trong điều kiện tốt nhất: dưới bóng mát và được trồng xen với những cây khác. Song chỉ riêng café được sản xuất ở các nông trường quốc doanh ở vùng Tây-Nam Etiopia thì lại được sử dụng hoá nông nghiệp một cách rất thận trọng. Đặc biệt Harrar và Yirgacheffe là hai nơi mà người ta gọi là”Cà phê vườn” được trồng ở dân làng trồng trên những cánh đồng nhỏ và sử dụng phương pháp hoàn toàn truyền thống.
 
Café từ Châu Phi và ẢRập: Kenya

Trong số các nước sản xuất càphê hiện nay thì Kenya được nhiều người biết đến nhất. Ngành nông ngiệp sản xuất café xuất hiện khá trễ ở quốc gia mà người ta chỉ uống trà này và đã được người dân Anh hướng dẫn trồng vào năm 1990. khi người dân Kenya giành được độc lập thì họ bắt đầu xây dựng ngành sản xuất café mà trước đây người ta chưa bao giờ nghĩ tới. Người ta đã chế tạo ra được quy trình công nghệ vi sinh và sử dụng công nghệ tiên tiến nhất trong việc kết tinh tính chất từ trái café và công nghệ sấy, người ta cũng đã phát triển được mối quan hệ hợp tác giữa các cổ đông nhỏ, phát triển được ngành công nghiệp xuất khẩu thông qua các cuộc đấu giá mở.
Đặc biệt hệ thống đấu giá này có thề được xem là thành công chủ yếu của café Kenya. Người mua sẽ đưa ra giá đấu thầu cao nhất để có thể mua một lô càphê được bán trong cuộc đấu giá hàng tuần do nhà nước Kenya tổ chức. Sẽ không có bất cứ thoả hiệp kín nào được thực hiện. Các mẫu café sẽ được đưa ra buổi đấu giá để cho các nhà xuất khẩu xem xét để mua, chính những người này sẽ định giá các lô café đó và chính họ sẽ phân phối những lô hàng này. Những người xuất khẩu sẽ đấu giá dựa trên sự định giá của riêng họ và dựa trên sở thích của khách hàng.

Hệ thống đơn giản và công bằng này sẽ thoả đáng hơn vì caphe chất lượng cao hơn thì giá cao hơn. Café Kenya có được lợi thế là điều kiện trồng trọt tốt cùng với điều kiện thuận lợi là đất đai, khí hậu đã góp phần làm tăng lên mùi vị hổn hợp rượu và tinh chất trái café của các loại café Ả Rập và Đông Phi.

Khu vực trồng café chủ yếu được trải dài từ miền nam với độ dốc 17000 feet đến gần thủ đô Nairobi. Có một vùng trồng café nhỏ hơn nằm trên đường dốc của Mt. Elgor, nằm trên biên giới giữa Uganda và Kenya. Hầu hết café Kenya được bán ở một số cửa hàng xung quanh vùng Mt. Kenya và đôi lúc được gọi với tên của thủ đô Nairobi. Đẳng cấp chỉ rõ kích cỡ của hạt café, ví dụ AA là loại café có hạt lớn nhất, sau đó là A&b.

Cốc café Kenya. Café Kenya gồm các loại có mùi vị đậm nhất và loại café có mùi vị phức tạp nhất, vị chua hổn hợp của rượu và hương thơm được tích chứa trong những quả café ngọt ngào. Mặc dù hạt café có trọng lượng trung bình nhưng café Kenya hầu như luôn có kích thước rất tuyệt. Cảm giác như luôn văng vẳng như tiếng chuông hơn là xét về khẩu vị của nó. Một số café Kenya mang màu sắc của quả chín mộng và mùi vị hổn hợp của cam, quít. Mùi vị chính mang hổn hợp của café Kenya được một số người mua đặc biệt thừa nhận. Cuối cùng thì ly café Kenya bao giờ cũng được uống cạn. Song có một số café hỏng của những nơi khác cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến café Kenya.

Cũng như nhiều vùng trồng café khác, Kenya bị đánh lừa bởi những người mua với mục đích để giới thiệu các loại giống lai mới của café Arabica, mặc dù các giống café này cũng đã rất thành công nhưng theo người mua thì chúng không ngon bằng các loại giống cũ như giống Sl28, ngành công nghiệp sản xuất café của Kenya được hình thành nhờ vào loại giống này. Có lẽ những lơi chỉ trích đó đặc biệt dữ dội trong trường hợp của café Kenya bởi lẽ chúng ta sợ phải mất đi một loại café ngon nhất này.
 
Café có xuất xứ từ Châu Phi và Ả Rập: Uganda.

Uganda nằm trong khu hồ lớn ở Trung Phi, vùng thượng nguồn của sông Nile, đây là nước xuất xứ của loại café Canephosa hay Robusta. Điểm chủ yếu trong quy trình sản xuất café ở đây là café sau khi đã được phơi sấy xong sẽ được đưa vào máy pha chế café cùng với một chút phụ liệu khác. Uganda cũng sản xuất loại café Arabica hảo hạng nhưng hầu hết chỉ trồng trên những lô đất nhỏ của người dân địa phương.
Café có tên Wagar thìđược trồng trên dãy núi biên giới Zaire ằm dọc biên giới phía Tây của Uganda. Nhãn hiệu mà nhiều người biết đến hơn đó là Buyishu được trồng ở vùng Mt.Elgon trên biên giới Kenya. Bugisai là loại café Châu Phi khác có mang mùi vị hổn hợp của trái cây và rượu , đây cũng là loại café sơ chế của café Kenya.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Tanzania

Hầu hết cà phê Arabica của Tanzania điều được trồng trên các cánh đồng trên núi Mt.Kilimanjaro và núi Meru gần biên giới Kenyan. Những loại cà phê này có tên là cà phê Kilimanjaro hoặc thỉnh thoảng được gọi với tên Moshi hay cà phê Arusha sau tên của tỉnh trồng hoặc cảng vận chuyển chúng. Một số ít cà phê Arabica còn được trồng ở miền Nam, giữa hồ Tanganyika và hồ Nyasa và được gọi với tên cà phê Mbeya sau tên của tỉnh trồng loại cà phê này hoặc dưới nhãn hiệu Pare, một cái tên thị trường. Trong tất cả mọi trường hợp thì đẳng cấp cao nhất của cà phê là mức AA, sau đó là loại A và B. Từ trước tới nay, loại cà phê Tanzania được bán nhiều nhất ở Mỹ là Peabesy, đây là loại cà phê mà hạt của nó chỉ là một khối thống nhất chứ không phải loại hạt hai mảnh.
 
Hầu hết các loại cà phê của Tanzania đều mang đặc điểm về hình dáng và tính chua của hai loại cà phê Châu Phi và cà phê Ả Rập. Những loại cà phê này có xu hướng hạt có kích cỡ vừa và đầy đặn cùng với mùi vị khá thơm và mịn giống như hương vị của cà phê Ethiopia.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Burundi

Nằm giữa Janzania và Congo ở Trung Phi, Burundi là một thuộc địa mới của Mỹ. Café của quốc gia này được trồng trên những mảnh ruộng nhỏ trong các ngôi làng ở phía Bắc Burundi và sẽ được chế biến tại các xưởng chế biến nhỏ. Café được bán trong các cuộc đấu giá được tổ chức giống như các cuộc đấu giá café tại Kenya. Burundi cũng là một trong những nuớc trồng café mà không sử dụng đến hoá chất. Và hầu hết café được trồng trong bóng râm. Hay nhất là café vẫn mang mùi thơm và vị hơi chua của loại café Đông Phi không bị hư trong suốt quá trình sấy, bảo quản cũng như vận chuyển.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Tanzania

Hầu hết café Arabica của Tanzania đều được trồng trên các cánh đồng trên núi Kilimsnfaro và núi Meru gần biên giới Kenya. Những loại café này có tên là café Kilimsnfaro hoặc thỉnh thoảng được gọi với tên Moshi hay café Arurha sau tên của tỉnh trồng hoặc cảng vận chuyển chúng. Một số ít café Arabica còn được trồng ở miền Nam, giữa hồ Tanganyika và hồ Nyesa và được gọi với tên café Mbeya sau tên của tỉnh trồng loại café này hoặc dưới nhãn hiệu pare. Trong tất cả mọi trường hợp thì đẳng cấp cao nhất của café là mức AA, sau đó là loại A&B. Từ trước tới nay, loại café Tanzania được bán nhiều nhất ở Mỹ là peabesy, đây là loại café mà hạt của nó chỉ là một khối thống nhất chứ không phải loại hạt hai mảnh.(culi, bi –Vietnam-ngườI dịch)

Hầu hết các loại café của Tanzania đều mang đặc điểm về hình dáng và tính chua của hai loại café Châu Phi và café Ả Rập. Những loại café này có xu hướng hạt có kích cỡ vừa và đầy đặn cùng với mùi vị khá thơm và mịn giống như hương vị của café Etiopia.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Malawi.

Malawi là một nước nhỏ mà biên giới của nó đi qua trục biên giới Bắc Nam giữa Mozambi và Zambia ở miền Đông Nam Châu Phi. Các loại café đặc biệt của Malavi hiện nay được bán tại Bắc Mỹ là đều được sản xuất ở đây. Những loại café Malavi này thơm hơn và mịn hơn café Đông Phi, chúng ngọt, ngon và có màu hơi nhạt.
 
Café Châu Phi và Ả Rập: Zambia.

Café Zambia xuất hiện trong các cửa hàng ở Bắc Mỹ hiện nay là được sản xuất ở những cánh đồng lớn. Loại café nổi tiếng nhất ở đây là café Terranova và Kapinga. Điểm ngon nhất của loại café này là: chúng là loại café theo truyền thống Đông Phi: hạt vừa, thơm với vị hỗn hợp của rượu vang và có vị hơi chua.
 
Café Châu Phi và Ả Rập: Zimbabwe.

Zimbabwe trước đây là kho desia đã và đang xuất khẩu loại café hảo hạng sang Mỹ trong nhiều năm nay. Loại café đã qua chế biến được trồng ở những nông trại vừa và lớn, chủ yếu là ở vùng núi Chipinge ở miền Đông Zimbabwe, nằm ở biên giới Modambit. Nó có một chút khác biệt trong vị chua với những loại café có pha một chút rượu vang của vùng Đông Phi. Một số nhà nhập khẩu xếp Zimbabwe vào nhóm café Kenya ngon nhất, loại café mà tôi đã từng được nếm thử cách đây vài năm không mấy đậm đà nhưng chúng có kích cỡ vừa phải, mang vị hổn hợp của rượu vang với vị quả chín theo kiểu café của người Mỹ. Loại café ngon nhất có cấp độ là AA. Smaldeel và Lalucie hiện nay là hai loại café được yêu thích nhất.
 
Hai loại café này được bóc ra khỏi vỏ và phơi trên mái nhà và chúng cũng được tiêu thụ nhiều như khi chúng vừa xuất hiện trên thị trường thế giới vào thế kỷ 17. Cả hai loại này mang nhiều hương vị thật phức tạp và thu hút với hương thơm nhẹ nhàng của các loại trái. Và những người thích uống café ngày nay cảm thấy thật hấp dẫn và quyến rũ như người mới bắt đầu tập uống café bị lạc vào ngôi nhà café mới ở Vinice và Vienna.
 
 Theo: xcafe.com.vn

Cà phê vùng Sidamo - Lan tỏa đam mê


Cà phê vùng Sidamo được mệnh danh là vàng đen, là một trong những loại cà phê ngon nhất thế giới. Trên bản đồ thế giới, nằm về phía Đông Soudan là Ethiopie với thủ đô Addis-Abeba. Từ thành phố này lui về phía Nam một chút, ta tìm thấy thị trấn Aouassa, thủ phủ vùng Sidamo.

Câu chuyện của chàng chăn dê vùng Kaffa

Thế giới của cà phê có thể chia ra làm hai: Arabica “danh giá” và Robusta thô, rẻ hơn. Cà phê Ethiopie thuộc về nhánh “danh giá”: tất cả các loại Arabica trồng ở Brazil, Ấn Độ hay Colombia ngày nay đều bắt nguồn từ vùng cao nguyên Abyssinie. Đất núi lửa ở độ cao tới 2.750m, khí hậu ôn hòa (15-250C) đã tạo nên một thứ cây quý mang tính di truyền: Arabica. Arabica lại có hai “đứa con” là Typica và Bourbon. Từ Ethiopie, chúng qua Yemen để tới Ấn Độ và Java (Indonesia). Người Hà Lan mang chúng tới trồng ở Nam Mỹ và quần đảo Antilles. Còn người Pháp thì đem Bourbon tới trồng ở đảo La Réunion…

Không phải loài người đã phát hiện ra cà phê mà chính là một chú dê con! Vào khoảng năm 800, một người chăn dê theo đạo Hồi tên Kaldi ở vùng Kaffa (từ đó mà có tên gọi cà phê), Tây Nam Addis-Abeba, phát hiện một chú dê của mình đang nhảy nhót không ngớt sau khi ăn lá hay quả của một thứ cây.

Tò mò, Kaldi nhấm nháp thử và đến lượt anh ta cũng bị kích thích như chú dê kia. Anh nói điều đó cho bạn bè và thứ cây đó đã giúp họ thức trắng nhiều đêm để cầu nguyện. Đó chính là một trong những “ứng dụng” đầu tiên của cà phê. Thế rồi “con đường cà phê” được mở ra, bắt đầu từ cảng Moka của Yemen qua Le Caire (Ai Cập), Thổ Nhĩ Kỳ, vào châu Âu qua các cảng Venise (Ý), Amsterdam (Hà Lan) hay Marseille (Pháp)…

Người Ethiopie uống tới một nửa số cà phê mà họ làm ra, kỷ lục trong số các nước sản xuất cà phê. Họ luôn uống ở nhà mình. Cần một tiếng đồng hồ để rang tẩm những hạt cà phê còn xanh trên những cái khay sắt đặt trên bếp lửa nấu bằng củi gỗ. Sau đó nấu cà phê lấy nước, mỗi mẻ như vậy uống được ba nước…

Hạt phương Nam, hương vị phương Bắc

Cà phê mọc ở phương Nam nhưng lợi nhuận lại nằm ở phương Bắc. Vàng đen, sản phẩm được trao đổi nhiều nhất trên thị trường thế giới chỉ sau có dầu mỏ, không làm giàu cho người dân địa phương. Ở Djimma, một ký cà phê xanh được mua với giá 1,50 euro. Cũng trọng lượng ấy, theo từng gói 250g, cửa hàng Starbucks ở Paris bán với giá 22 euro!

Cà phê mọc ở phương Nam nhưng hương vị của nó lại được quyết định bởi người phương Bắc. Đàn ông thường thích loại cà phê harar, vị hơi ngậy, như vị bơ, có mùi như mùi gia vị. Phụ nữ thì lại thích cà phê Sidamo, tinh tế hơn, như có hương hoa, thơm thơm mùi trái mơ… Nhưng ai cũng thích cà phê ngon và bio (ý nói loại cà phê được trồng không sử dụng các loại phân bón hoặc chế phẩm hóa học). Đấy cũng là điều may mắn cho những người trồng cà phê Ethiopie: từ thời Kaldi cho tới tận ngày nay, cà phê của họ luôn được chăm bón bằng phân hữu cơ, đơn giản chỉ vì phân hóa học là một thứ sản phẩm xa xỉ ngoài tầm tay của 77 triệu người dân nước này…

Cà phê ở đây được chia làm 2 loại: Cà phê ngâm nước (cà phê “rửa”) và cà phê tự nhiên. Để lấy hạt cà phê có hai cách: Thịt của quả cà phê được lấy đi trong nước nhờ những chiếc đĩa cọ xát vào nhau, sau đó hạt tiếp tục được ngâm nước từ 36 tới 48 giờ. Một cách khác là trái cà phê tươi đem phơi nắng cho tới khi cứng lại, sau đó được xay tách vỏ bằng máy. Cà phê rửa thường được chuộng hơn vì có hương vị của thứ lên men, như rượu vang vậy. Hạt cà phê được kiểm tra kỹ lưỡng ở phòng thí nghiệm quốc gia đặt tại Addis-Abeba.

Người làm công việc thử cà phê được đào tạo trong 3 năm và thường phải làm việc trong 10 năm mới có đủ kinh nghiệm cần thiết. Đến lượt mình, các nhà xuất nhập khẩu lại làm sạch và tuyển chọn lại cà phê một lần nữa.

Cà phê trồng ở phương Nam nhưng nó lại được sao tẩm ở phương Bắc. Sau khi rang là lúc cà phê có hương vị ngon nhất, cần phải sử dụng ngay. Cà phê ngon cần được rang ở nhiệt độ cao từ 13 tới 25 phút. Người Tây Âu thích cà phê nâu. Người Nam Âu thích cà phê vàng nâu hoặc nâu đỏ. Còn cà phê của chuỗi cửa hàng Starbucks (Mỹ) thì có màu đen đặc, đen đến nỗi người ta gọi nó là “Starburnt” (burnt có nghĩa là “cháy”). Starbucks mua những thứ cà phê ngon của thế giới, rồi chế biến, sau đó thêm hương va-ni, caramen hay hạt hạnh nhân… để đáp ứng “gu” thưởng thức đa dạng của khách…

Tương tự, cà phê mọc ở phương Nam nhưng nghệ thuật marketing lại đến từ phương Bắc. Ở Addis-Abeba, bạn có thể vào các cửa tiệm Kaldi’s để uống một ly cà phê và ngồi ngắm những bức tranh kể lại câu chuyện xưa kia của chàng chăn dê đã tìm ra cây cà phê trên tường. Kaldi’s là “bản sao” của Starbucks, chỉ khác có tên gọi…

Trái cà phê khi vừa hái xong phải được xử lý ngay. Người thu hoạch thường phơi cà phê dưới nắng mặt trời, đảo thường xuyên. Khi trái cà phê đã khô, nó được bóc vỏ và thịt đi để lấy hạt. Công đoạn này của cà phê Robusta thường làm khô, trong khi cà phê Arabica lại được làm “ướt”: trái cà phê được ủ lên men để loại bỏ vỏ và thịt, còn hạt sau đó được sấy khô. Các xưởng chế biến cà phê hiện đại có máy tuyển lựa, loại bỏ trái cà phê, hạt cà phê kém chất lượng. Sau khi đã được xử lý, hạt cà phê cần phải được rang ngay. Ở nhiệt độ cao, các phản ứng hóa học xảy ra làm cà phê dậy mùi thơm. Quá trình rang cà phê được thực hiện theo một số giai đoạn. Rang trong thời gian ngắn, ở nhiệt độ quá cao, cà phê dễ có vị đắng. Rang ở nhiệt độ thấp, cà phê dễ có vị a xít…
Nhị Bình
Theo: L’Express

Cà phê Colombia


Liên đoàn Nông Dân trồng cà phê Quốc Gia (FNC): Được thành lập từ năm 1927 vì sự phồn thịnh của nông dân trông cà phê Colombia  FNC bao gồm gần như toàn bộ những người trồng cà phê Colombia (cafeteros), với số lượng trên 500.000 thành viên.
Bằng việc gia nhập hiệp hội – một tổ chức lớn duy nhất – những người nông dân sẽ được hưởng nhiều quyền lợi và tăng thêm sức mạnh của mình. Điều này đặc biệt quan trọng vì hiện nay quy mô trung bình của một trang trại cá nhân ở Colombia vào khoảng 2 ha. Mục đích thành lập Liên đoàn là vì lợi ích của tất cả nông dân trồng cà phê.
Mọi quyền lợi đều vì nông dân trồng cà phê và cộng đồng. Một đóng góp trực tiếp và quan trọng nữa của Liên đoàn là ngày nay cà phê Colombia được bán trên thị trường thế giới với giá tương đối cao, góp phần mang lại cuộc sống khấm khá hơn cho các thành viên trong hiệp hội.
FCN đại diện cho các thành viên trong thương mại cà phê và hết sức thành công. Điều này đã được kiểm chứng từ hơn 70 năm qua.
Đảm bảo giá: bước đệm giúp nông dân chống lại những biến động bất thường và khó lường của thị trường cà phê quốc tế. Tham gia hiệp hội, những người nông dân được đảm bảo có thu nhập đầy đủ và ổn định.
Khoản doanh thu tăng thêm khi giá trên thị trường thế giới tăng cao sẽ được để giành cho việc duy trì mức giá tối thiểu đề phòng lúc tình hình giá trên thị trường thế giới giảm sút. Ví dụ trong những năm đầu thập niên 90, với cơ chế này nông dân trồng cà phê Colombia đã được bù đắp 1,5 tỷ đô la thua lỗ.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
Tham gia Liên đoàn, nông dân được trả tiền trực tiếp và điều quan trọng là Liên đoàn luôn luôn mua cà phê của các thành viên. Tuy nhiên, người nông dân không bắt buộc phải bán cà phê cho Liên đoàn, bởi vì FCN không phải là một tổ chức độc quyền thương mại. Thực tế, có đến hơn 50 công ty xuất  khẩu tư nhân và hơn 40 hợp tác xã tham gia vào các hoạt động kinh doanh cà phê ở Colombia.

Đầu tư trong cộng đồng

Việc đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng – như xây dựng các rường học, đường sá và các trung tâm y tế- là một cách chuyển lợi ích từ FNC sang cộng đồng, có tác dụng  nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu con người.
Chất lượng: Chất lượng cao, ổn định là nhân tố quyết định sống còn nhằm đảm bảo sự nổi tiếng của cà phê Colômbia trên toàn thế giới, bởi vậy mới đảm được thu nhập cao cho người trồng cà phê.
FNC có hơn 800 chuyên gia cố vấn nông nghiệp, sẵn sàng tham gia vào mọi hoạt động của tổ chức và hiện đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng nông nghiệp. Liên đoàn sở hữu một trong những trung tâm nghiên cứu và phát triển cà phê hàng đầu với hơn 100 nhà khoa học và hoá học.
Ngoài ra, còn nhiều các trang trại thử nghiệm khác. Phát triển và truyền bá rộng rãi các phương pháp sản xuất và gieo trồng sinh học là trọng tâm của chương trình nghiên cứu và phát triển.

Tăng thêm giá trị gia tăng cho Sản phẩm cà phê Colombia

FNC đã xây dựng một trong những nhà máy chế biến cà phê khô – lạnh lớn nhất thế giới tại Chinchino, vùng trồng cà phê lớn nhất của Colombia. Nhà máy đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người, đem lại nhiều cơ hội kinh doanh và phổ biến các kinh nghiệm quản lý và kỹ thuật tiên tiến. Nhà máy này được FCN quản lý toàn diện chặt chẽ.
Đa dạng hoá cây trồng: Diễn biến thị trường cà phê thế giới những năm qua không lấy gì làm sáng sủa và với mục tiêu tăng năng suất FNC đã khuyến khích nông dân trong các khu vực trồng cà phê trồng thêm các loại cây khác nhằm tránh sự phụ thuộc quá mức vào cây cà phê. Đây chỉ là một ví dụ cho thấy tầm nhìn xa và những kế hoạch mang tính chiến lược thực tế của FCN.
Quảng bá thương hiệu cà phê colombia: FNC hiện sử dụng tất cả các phương tiện quảng cáo và marketing hiện đại nhằm nâng cao tên tuổi cà phê Colombia trên khắp thế giới. Những bước đi cẩn trọng giúp khách hàng nhận thức đúng đắn và am hiểu nhiều hơn đối với cà phê Colombia và vì vậy, tạo điều kiện thuận lợi để cà phê Colombia thâm nhập thị trường.

Một tổ chức dân chủ và công bằng

thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
70 năm thành công trong thương mại và kinh doanh hợp lý FNC:
  • Được tạo lập và điều hành bởi chính những người nông dân trồng cà phê – không chịu sự quản lý nào từ chính phủ hay các tổ chức quốc tế.
  • Là một tổ chức phi chính trị. Điều này tạo nên sự ổn định lớn
  • Hoạt động như một doanh nghiệp thương mại, nên trách nhiệm đè nặng lên vai các nhà quản lý và các nhân viên.
  • Không có sự độc quyền. Việc xuất hiện các nhà xuất khẩu cà phê khác ở Colombia chỉ là sự đảm bảo rằng Liên đoàn thực hiện những điều tốt nhất cho các thành viên.
  • Được xây dựng trên sự cân đối giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung – một cách thức để đem lại hiệu quả lớn nhất cho những người trồng cà phê.
FNC thật sự là một tổ chức dân chủ, hoàn toàn được lãnh đạo bởi những người trồng cà phê. Để đảm bảo tính dân chủ, tổ chức được thành lập theo cấu trúc 3 đại diện, dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu giống như quốc hội lựa chọn các thành viên. Tất cả những người đại diện, ở các cấp độ đều là nông dân trồng cà phê.

Chiến lược quảng cáo

FNC được thành lập từ năm 1926, là một tổ chức kinh doanh độc lập, tập hợp những người trồng cà phê ở Colombia. Chỉ trong phạm vi lãnh thổ Colombia, liên đoàn đã cung cấp một mạng lưới giám định và kiểm soát chất lượng nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cao nhất cho cà phê Colombia.
Trên khắp thế giới, các văn phòng của Liên đoàn ở khắp các quốc gia với các kênh thông tin đại chúng và giao thương hợp lý nhằm khuếch trương và thúc đẩy tiêu dùng cà phê Colombia.
Để tiếp thị, việc trước tiên là FCN để người tiêu dùng biết tại sao cà phê Colombia lại ngon hơn so với cà phê các nước khác, sau đó mới nói cho họ về các chương trình chăm sóc và lượng nhân công cần dùng để trồng và chăm sóc cây cà phê cũng như là các điều kiện khí hậu thuận lợi không dễ thấy ở các quốc gia khác.
Chiến dịch chiếm lĩnh thị trường mang tính giáo dục ban đầu bao gồm các hình ảnh trên vô tuyến cho thấy nông dân đang cẩn thận hái nhặt từng hạt cà phê chín trên các cánh đồng cà phê với người dẫn chương trình là Juan Valdez, người phát ngôn lâu nay của cà phê Colombia.
Những hình ảnh này giúp người tiêu dùng hiểu rằng, các hạt cà phê Colombia được trồng và hái  bởi những người rất chuyên nghiệp, không có hoặc có rất ít sự trợ giúp từ máy móc trong các điều kiên khí hậu tuyệt vời, nhiều mưa, nắng và đất phì nhiêu được tạo ra bởi các dòng nham thạch. Với ấn tượng trên, người tiêu dùng bị lôi cuốn bởi sự ưu việt của cà phê Colombia. Chiến dịch này bắt đầu từ đầu thập kỷ 60 và kéo dài cho đến những năm 80.
Phần lớn thói quen của những người tiêu dùng thập niên 80 quan tâm đến chất lượng nên   Colombia đã mở một chiến dịch nhằm vào phân đoạn thị trường này và để lại ấn tượng sâu rộng.
Đây cũng là mở đầu của chiến lược gây ấn tượng mà mục tiêu chính là tạo ra một hình ảnh đẹp đối với cà phê Colombia trong con mắt những người tiêu dùng cũng như là sự khác biệt so với cà phê các nước khác. Chiến dịch này tập trung minh hoạ những hình ảnh mang tính khôi hài và sành điệu với nhu cầu thượng hạng.
Các phương tiện như máy bay, tàu hoả, ô tô đều chuyển sang mua được cà phê từ Colombia. Và chiến dịch này đã dành được các giải thưởng uy tín của ngành bao gồm Effies, CLIO và ADDY, miêu tả sinh động cà phê Comlombia dưới ánh đèn lung tinh với những giải thưởng quý giá, càng làm cho thương hiệu thêm nổi  bật.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
Do vậy, người tiêu dùng sẵn sàng dùng Cà phê Colombia vì 2 lý do: Thứ nhất, họ hiểu rằng một sản phẩm chất lượng tốt đi cùng với hình ảnh đầy ấn tượng sẽ là lựa chọn số một. Thứ 2, chiến dịch này bắt đầu từ thập 80, cho đến nay vẫn không có nhiều sự thay đổi, dần thấm vào tiềm thức của người tiêu dùng. Ngày nay, để lôi kéo người tiêu dùng mua sản phẩm, họ cần phải biết mua ở đâu và mua như thế nào.
Cà phê Colombia không phải là một thương hiệu, Colombbia chỉ là một thuật ngữ chỉ xuất xứ của cà phê trong muôn vàn thương hiệu cà phê.  Phần lớn các thương hiệu cà phê là sản phẩm được trộn lẫn giữa cà phê Colombia với cà phê của các nước khác. Rất nhiều các nhà rang xay rất chú ý đến chất lượng cà phê, nên họ chọn hoàn toàn 100% cà phê COLOMBIA.
Với mục đích đảm bảo rằng thương hiệu này 100% là cà phê Colombia,  FNC đã thiết kế một biểu tượng trên đó thể hiện tấy cả các thương hiệu cà phê có nguồn gốc từ Colombia- Hình ảnh Juan Valdez và biểu tượng.
Tờ quảng cáo bìa được tạo ra cùng với logo được bố trí trông khá bắt mắt theo những cách độc đáo chẳng hạn như hình ảnh một con bò đang kêu “vừa đủ kem cho cà phê Colombia”, hay một câu đố vui, những hình ảnh về kim tự tháp Ai Cập hoặc hình ảnh một chiếc vợt tennis.
Ngoài ra, một chiến dịch quảng cáo qua vô tuyến với hình ảnh Juan Valdez và con la thân tín của mình xuất hiện trong một tủ bát đĩa trong nhà bếp hay trên một góc siêu thị. Theo những các quảng cáo hết sức đơn giản như vậy, người tiêu dùng sẽ dễ dàng nhận ra thương hiệu cà phê Colombia 100%  nghĩa là chỉ cần nhìn thấy hình ảnh của Juan Valdez trên các bao bì hay lon hộp cà phê.
Chiến lược này đã bắt đầu được thực hiện ngay sau khi logo-biểu tượng đó được tạo ra năm 1981 và vẫn tiếp tục dùng cho đến ngày hôm nay để nhắc nhở người tiêu dùng làm thế nào có thể mua đúng sản phẩm.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia

Những năm thập kỷ 90: Chiến lược ”Thưởng thức cuộc sống với ly cà phê”

Những năm 1990 đã đánh dấu một làn sóng hình thành các quán bar cà phê với khách hàng phần nhiều gồm những thanh niên trẻ tuổi – một thế hệ khách hàng mới.
Cà phê Colombia đã nhận ra tập khách hàng tiềm năng trẻ tuổi, vì vậy họ đã tạo ra một chiến lược song song với hình ảnh Juan Valdez “đang ngâm nghi ly cà phê” hay đang nở một nụ cười với những môn thể thao mạo hiểm như lướt sóng, trượt tuyết và tàu lượn.
Chiến dịch này bắt đầu từ những năm 1994 và song hành với hình ảnh và logo – biểu tượng nhắc nhở những người tiêu dùng trẻ tuổi nên uống cà phê Colombia như là một cách cảm nhận cuộc sống thú vị.

Theo Thienduongcafe
 
THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ FIN SỐ MỘT VIỆT NAM - SỰ LỰA CHỌN TỐT NHẤT CHO CÁC CÁC QUÁN CÀ PHÊ LIÊN HỆ :Mr- NGUYỄN VĂN PHÚC | Số điện thoại | 0989.845.458
HOẶC : Miss - LÊ THỊ CHÂM | Số điện thoại | 0916.646.189
Email | coffeefin@gmail.com | caphefin@gmail.com
Copyright © 2011. CÀ PHÊ PHIN VIỆT NAM - All Rights Reserved